Thursday, November 20, 2014

TÌNH HÌNH DI CƯ CỦA NGƯỜI VIỆT SANG HOA KỲ VÀ NHỮNG DẤU HỎI

Biểu đồ di dân Việt Nam đến Hoa Kỳ kể từ 30/4/1975 đến 31/12/2012 do Viện Chính sách Di dân Hoa Kỳ thống kê

Trong một bài viết vào ngày 25/8/2014 vừa qua của Viện Chính sách Di dân của Hoa Kỳ. Họ chia làn sóng di dân của người Việt làm 3 đợt trong vòng 40 năm kể từ sau 30/4/1975.

Đợt đầu tiên là làm sóng tỵ nạn ngay sự cố 30/4/1975 khoảng 125.000 người.

Đợt thứ hai là vào 2 cuối thập niên 1970s là do làm sóng thuyền nhân vượt biển chạy trốn khỏi chế độ cộng sản tàn độc tại Việt Nam. Con số này khoảng 418.000 người.

Đợt thứ ba vào cuối thập niên 1990 đến nay. Đa số là diện đoàn tụ gia đình và đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp vào Hoa Kỳ. Đợt này là đông nhất. Nó làm tăng con số người Việt sống tại Hoa Kỳ tăng từ 543.000 người lên con số 1.259.000 người trong năm 2012, chiếm 3% dân số của những người nước ngoài tại Hoa Kỳ(khoảng 40.8 triệu).

Số di dân từ Việt Nam sang Hoa Kỳ chỉ đứng thứ tư sau Ấn Độ, Phillipines và Trung Hoa. So với các quốc gia khác mà có mặt người Việt thì Hoa Kỳ là nơi đông người Việt. Tại Úc có 226.000, Canada có 185.000, và Pháp có 128.000 người Việt sinh sống. 

Ba phần trăm dân số của một chủng tộc ở một quốc gia có nhiều chủng tộc di dân đến sống ở Hoa Kỳ là con số đáng để suy nghĩ về sự lớn mạnh của người Việt không chỉ ở Hoa Kỳ, mà còn ở trên thế giới, và khả năng ảnh hưởng về quê nhà.

Gần đây, một số chính khách và khoa học gia Việt Nam bắt đầu ghi tên tuổi mình với Hoa Kỳ. Đó là những kỳ vọng, và những niềm an ủi cho đất nước Việt trong tương lai. Nhưng có 2 vấn đề cũng đáng lo ngại là:

Thứ nhất, thế hệ F1 và F1.5 người Việt ngày càng lớn tuổi. Họ chính là những con người còn thiết tha với tổ quốc và dân tộc. Nếu họ không còn nữa, thì mọi sự đóng góp cho quê nhà sẽ không còn nữa.

Thứ hai, là thế hệ F2.0 trở đi, họ sinh ra và lớn lên trên đất Mỹ, văn hóa Mỹ sẽ làm họ dần quên cội nguồn. Có thể, một số rất ít trong số họ còn nghĩ đến quê nhà nhờ vào truyền thống gia đình được gìn giữ, nhưng tác động của họ sẽ không thể bằng thế hệ F1 và F1.5.

Thế thì, liệu những con số trên sẽ góp phần gì cho việc canh tân đất nước ngoài việc hằng năm gửi về khoảng hơn 10 tỷ đô la?

Asia Clinic, 17h49' ngày thứ Năm, 20/11/2014

ĐIỀU ĐÁNG SỢ ĐÃ ĐƯỢC NÓI RÕ Ở QUỐC HỘI

Bài đọc liên quan:

Mỗi kỳ họp quốc hội gần đây có nhiều phát biểu của các đại biểu thẳng thắng và trung thực hơn. Kỳ họp quốc hội lần này cũng vậy, điều đáng sợ là sự lệ thuộc vào Trung Hoa không thể thoát ra được.

Trong bài phát biểu của ông Trương Trọng Nghĩa của Sài Gòn đã nói lên điều đáng sợ nhất của Việt Nam hiện thời. Trong tất cả các cái đáng sợ là nợ tài chính không dám công khai để rồi mọi việc bị trói buộc, mà không thể gở ra. 

Có phải chăng tiến trình Hội Nghị Thành Đô 1990 đã và đang trở thành hiện thực, mà người dân bán tín, bán nghi rằng, nước Việt đã là một thuộc địa của Trung Hoa, nhưng tới giờ này, chưa có bất kỳ văn bảng bạch hóa về vấn đề này. Gần đây lại lòi ra nhiều dự án đáng lo ngại hơn cả bauxite Tây Nguyên như các dự án ở đèo Hải Vân - Huế.

Người phát biểu đúng thì bấm chuông không cho phát biểu, kẻ hô khẩu hiệu bằng phát biểu vuốt đuôi thì chiếm hết cả thì giờ tốn tiền của dân.

Tôi xin lưu lại youtube phát biểu của đại biểu Trương Trọng Nghĩa như là một bằng chứng lịch sử cho mai hậu trong bài viết ngắn này.



Asia Clinic, 16h59' ngày thứ Năm, 20/11/2014

Sunday, November 16, 2014

5 VẤN ĐỀ VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP VỚI VISA EB5 TẠI HOA KỲ

Trong đầu tư gián tiếp để cả gia đình được định cư tại Hoa Kỳ theo visa EB5 là loại đầu tư lãi ăn, lỗ phải chịu, nên việc chọn lựa chủ đầu tư tại Hoa Kỳ là việc tối quan trọng. 

Đồng thời, việc chuyển tiền và chứng minh nguồn tiền sạch, hợp pháp là vấn đề rất quan trọng. 

Ngoài ra, nhà đầu tư Việt Nam phải có một lý lịch tư pháp trong sạch. Nếu không tiền đầu tư sẽ bị ách lại, và có khi bị mất trắng.

Có 5 vấn đề lớn mà nhà đầu tư Việt Nam cần phải hiểu rõ, và cần phải làm. Nếu không, tiền mất tật mang.

Vấn đề 1: Để bảo đảm tiền đầu tư cho nhà đầu tư từ Việt Nam thì cần 4 thủ tục ký kết như sau:
+ Ký 1 hợp đồng với chủ đầu tư dự án tại Hoa Kỳ để nhà đầu tư VN như là một cổ đông.
+ Ký hợp đồng với 1 công ty kiểm toán quốc tế để họ kiểm tra năng lực chủ đầu tư và kiểm tra dự án báo cáo cho nhà đầu tư gián tiếp từng quý. Điều này rất quan trọng để an toàn vốn đầu tư, không có không được.
+ Ký hợp đồng với một công ty tài chính để mở tài khoản tín thác bảo đảm số tiền đầu tư.
+ Ký hợp đồng với văn phòng luật sư di trú, cụ thể là văn phòng luật tại Hoa Kỳ đang làm việc để công ty luật có uy tín bảo đảm về luật di trú và hồ sơ cũng như việc đầu tư an toàn.
+ Ký 1 hợp đồng với công ty môi giới đầu tư đại diện tại Việt Nam.

Vấn đề 2: Chi phí cho hồ sơ ngoài $500K đầu tư gồm:
+ Phí quản lý dự án phải chi cho công ty kiểm toán và công ty tài chính có tài khoản tín thác của nhà đầu tư Việt Nam khoảng 45-50K cho 1 trường hợp.
+ Phí luật sư cho công ty Luật ở Hoa Kỳ là 20K cho mỗi trường hợp.
+ Phí chuyển tiền di động trong từ 1-4% tùy theo trường hợp khó hay dễ.
+ Phí cho chính phủ Mỹ gồm có đóng tiền phỏng vấn visa, khám sức khỏe, làm thẻ xanh.
+ Phí cho công ty môi giới đầu tư đại diện tại Việt Nam là 10K cho mỗi trường hợp.

Vấn đề 3: Thời gian hoàn tất hồ sơ để đi nhập cư tại Hoa Kỳ kể từ khi bắt đầu làm là khoảng 18 đến 24 tháng là hoàn tất.

Vấn đề 4: Nếu vì một lý do nào đó mà hồ sơ không thể thực hiện được thì nhà đầu tư Việt Nam sẽ mất tất cả các phí trên. Ví dụ, lý lịch tư pháp không trong sạch, hoặc hồ sơ chứng minh nguồn tiền không có nguồn gốc. Lúc đó $500K sẽ được hoàn trả lại, nhưng phải mất phí. Vì thế cho nên hồ sơ nhà đầu tư phải đưa cho công ty môi giới và công ty luật xem trước có được không thì mới hãy tiến hành.

Vấn đề 5: Công ty môi giới sẽ giới thiệu dự án đầu tư, và nếu muốn họ sẽ đưa nhà đầu tư Việt Nam đến tận nơi đang thực thi dự án tại Hoa Kỳ để xem tận mắt là dự án có thật.

Asia Clinic, 7h31' Chúa nhật, 15/11/2014

Friday, November 14, 2014

VISA EB5 LÀ GÌ?

Mấy năm gần đây giới chính khách và showbiz của các quốc gia cộng sản châu Á đi tỵ nạn bằng con đường visa EB5 hầu như hơn 90%. Gần đây giới trí thức có ít vốn cũng tính đường tỵ nạn giáo dục cho con cái khá đông. Nhưng hầu hết họ không hiểu cặn kẽ visa EB5 là gì? Đó là mục tiêu của bài viết này. Trong bài viết này tôi chỉ viết EB5 ở Hoa Kỳ.

Định nghĩa: Visa EB5 là visa nhập cư cho 1 gia đình có điều kiện đầu tư kinh tế và giấy tờ ở các quốc gia phương Tây và Úc, Mỹ và Canada. Điều kiện ở đây là điều kiện kinh tế và điều kiện ràng buộc về giấy tờ đảm bảo cho đầu tư kinh tế của các công dân nước ngoài đầu tư vào các quốc gia này để trở thành thường trú nhân của các quốc gia này.

Phân loại: Có 2 loại đầu tư kinh tế

+ Đầu tư trực tiếp: là loại đầu tư nhiều tiền, ít nhất là 1 triệu đô la Mỹ. Nhưng với loại đầu tư này hầu hết các gia đình ở các nước cộng sản không thể đáp ứng được về mặt thủ tục giấy tờ. Chỉ một vài tập đoàn lớn có giấy phép đầu tư ra nước ngoài của bộ kế hoạch đầu tư và chính phủ cho phép mới có thể làm được. Ví dụ như ông Trầm Bê đầu tư vào Trung Tâm Thương Mại Vallco Shopping Mall tại San Jose năm 2009 với số vốn là 64 triệu đô la Mỹ, là có giấy phép đầu tư ra nước ngoài, lãi phải mang về Việt Nam. Thông tin hôm nay ông bán được trung tâm này 116 triệu đô la, đóng thuế 36 triệu cho Hoa Kỳ, lãi ròng 16 triệu đô, và mang về Việt Nam tổng số tiền là 80 triệu đô la. Dĩ nhiên với đầu tư này cả gia đình ông trở thành công dân có 2 quốc tịch sau 5 năm.

+ Đầu tư gián tiếp: là loại đầu tư vào các dự án của Hoa Kỳ để phục vụ chủ yếu cho việc học hành của con cái, sau đó là chỉ yêu cầu hoàn vốn sớm nhất, lợi nhuận hầu như là không mong đợi, có thì càng tốt. Đầu tư này chỉ cần vốn 500 ngàn đô la Mỹ và phí hồ sơ cho các bên liên quan: công ty luật, công ty môi giới, công ty tài chính tín thác, và phí thủ tục hồ sơ phỏng vấn, cấp visa, cho chính phủ Hoa Kỳ khoảng 100 ngàn đô la phải mất. Cũng giống như đầu tư trực tiếp, cả gia đình sẽ có thẻ xanh có điều kiện 2 năm.

Thẻ xanh có điều kiện trong 2 năm đầu theo form I-526. Thẻ xanh này sẽ bị nhà nước Mỹ rút lại, nếu vì một lý do nào đó mà nhà đầu tư rút lại số tiền đã đầu tư 500 ngàn đô la Mỹ vào các dự án không đúng thời hạn hợp đồng giữa 2 bên ký kết. Đây chỉ là điều kiện ràng buộc để số tiền đầu tư vào dư án phải được ở Hoa Kỳ ít nhất 2 năm đầu mà thôi.

Sau 2 năm mà nhà đầu tư không vi phạm hợp đồng thì thẻ xanh theo form I-526 sẽ được chuyển đổi thành thẻ xanh vĩnh viễn theo form I-829. Và lúc đó nhà đầu tư yên tâm chờ ngày thi quốc tịch.

Có một điều đáng lưu ý là, ngay sau khi có thẻ xanh có điều kiện theo form I526 là tất cả các trẻ của gia đình đầu tư vào Hoa Kỳ được đi học ở các trường công lập theo chương trình phổ thông Hoa Kỳ mà không tốn tiền.

Các form I-526 và I-829 các bạn có thể hỏi công ty môi giới hoặc công ty luật làm hồ sơ của bạn, bạn cũng có thể tham khảo ở trang web chính phủ Hoa Kỳ mà tôi đã chèn link trong bài viết này, hoặc tham khảo sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Nếu làm một bài toán tỵ nạn giáo dục cho con cái chỉ ở các trường quốc tế tại Việt Nam, ví dụ như SSIS - Saigon South International School - thì học phí mỗi năm học cho bậc tiểu học cũng 25 ngàn đô la Mỹ, trung học thì phải 35 ngàn đô la Mỹ. Vị chi tiền học cho 1 trẻ học cũng hơn số tiền đầu tư gián tiếp vào một dự án để cả gia đình có thẻ xanh Hoa Kỳ và con cái học hành không tốn tiền.

Và dĩ nhiên số tiền tỵ nạn giáo dục tại chỗ hoặc cho con sang Hoa Kỳ học sẽ mất đi, trong khi đó, làm hồ sơ EB5 thì sau 5 hoặc 6 năm sẽ hoàn vốn.

Ngoài ra, khi đầu tư gián tiếp hay trực tiếp Hoa Kỳ không bắt buộc nhà đầu tư phải có mặt đủ thời gian ở Hoa Kỳ để được ghi danh thi quốc tịch như dạng di trú theo diện đoàn tụ gia đình. Lúc đó, nhà đầu tư vẫn có thể ở Việt Nam làm nghề của mình để có thu nhập và báo cáo thuế với chính phủ Hoa Kỳ hằng năm là đủ, đúng thời hạn thi quốc tịch thì nhờ công ty luật làm hồ sơ ghi danh thi quốc tịch Hoa Kỳ.

Vấn đề còn lại là dù đầu tư gián tiếp hay trực tiếp đều lời ăn, lỗ chịu, và phải bù lỗ nếu chọn sai dự án cho 2 năm đầu, để xong thẻ xanh vĩnh viễn. Nên nhà đầu tư phải biết chon mặt gửi vàng cho cái dự án mà mình phải đầu tư.

Mong rằng bài viết này sẽ giúp ích cho mọi người lựa chọn tương lai cho con cái mình.

Asia Clinic, 16h28' ngày thứ Sáu, 14/11/2014

Wednesday, November 12, 2014

THÔNG BÁO VỀ GÓI HỌC BỔNG QUỸ TÂY DU NĂM HỌC 2015-2016

Thân chào các bạn trẻ và quý phụ huynh học sinh quan tâm đến Quỹ Tây Du,

Đây là thông báo cấp đợt học bổng của Quỹ Tây Du đầu tiên sau khi thành lập. Hy vọng rằng nó sẽ tạo niềm hứng khởi cho các thế hệ trẻ tài năng của Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng bản thân mình có một vị thế lớn trong xã hội tương lai.

Trong bài viết tháng 9/2014, và trong phần FAQ một số thông tin về hồ sơ nhập học đại học Hoa Kỳ đã rõ thời gian và các thủ tục. Hôm nay Quỹ Tây Du xin thông báo 3 vấn đề quan trọng về học bổng của Quỹ cho các tài năng trẻ Việt Nam du học Hoa Kỳ.

Vấn đề thứ nhất là: số tiền mà thí sinh sẽ nhận được từ Quỹ Tây Du mỗi năm học đại học Hoa Kỳ là $5.000/năm học cho 4 năm đại học, sau khi thí sinh đã được nhận học bổng đại học Hoa Kỳ một phần, mà gia đình không đủ khả năng kinh tế để bù đắp vào phần còn lại. Học bổng này là loại Merit Based Aid. Có nghĩa là, thí sinh phải cập nhật cho Quỹ Tây Du hằng năm về bảng điểm của mình phải > 3.2/4.0 thì mới được nhận tiếp cho năm sau. Ngoài ra những vi phạm về quy chế của Quỹ Tây Du trong quá trình học tập cũng bị gạch tên cho lần cấp học bổng năm kế tiếp.

Vấn đề thứ hai là: Thời điểm Quỹ Tây Du chấm dứt nhận hồ sơ của thí sinh săn học bổng là ngày 15/01 hằng năm. Chúng tôi dời lại thời điểm chấm dứt nhận hồ sơ trễ hơn các đại học lớn của Hoa Kỳ đúng 1 tháng là để tạo điều kiện cho các thí sinh có thời gian thong thả làm hồ sơ nộp cho Quỹ Tây Du.

Vấn đề thứ ba là: Sau khi thí sinh nộp hồ sơ cho Quỹ Tây Du, chúng tôi sẽ kiểm tra, xem xét, và sẽ chọn ngày, giờ, địa điểm phỏng vấn để đánh giá thí sinh trước khi công bố thí sinh được nhận học bổng của Quỹ Tây Du. Số lượng học bổng không hạn chế. Vấn đề của thí sinh là đáp ứng 3 tiêu chuẩn tối cần thiết mà Quỹ Tây Du đã đưa ra: Nhân cách, Tài năng, và Tư duy độc lập. Học bổng sẽ có giấy chứng nhận và trao cho thí sinh trang trọng, có quay phim, chụp hình để lưu lại cho Quỹ và báo cáo với 2 chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam.

Rất mong rằng các tài năng trẻ Việt Nam cố gắng vì một tương lai của bản thân, gia đình và Tổ quốc.

Chúc các bạn thành công.

Asia Clinic, 12h08' ngày thứ Tư, 12/11/2014

Monday, November 3, 2014

BỐN VẤN ĐỀ KHI TRẺ NHŨ NHI KHÓC

Các ông cha, bà mẹ trẻ thường thiếu kinh nghiệm về nuôi con, nên thường đưa trẻ đi khám khi bệnh đã nặng hoặc quá nặng có thể nguy hiểm đến tính mạng trẻ. Đó là mục đích có bài khoa học thường thức trong y học này, vì gần đây, có nhiều trẻ đến khám khi bệnh đã nặng, hoặc đã tự hồi phục.

Trẻ con còn nhũ nhi chưa biết nói, nhưng chúng biết khóc và quấy, bẳn hẳn, khó chịu. Khi chúng quấy khó hoặc khó chịu thì có 4 vấn đề đơn giản mà bậc phụ huynh phải kiểm tra khi chúng khó ở:

1. Chúng có buồn ngủ không?

2. Trẻ có đói bụng không?

3. Trẻ có đang mang cái tả mà trong đó bị chứa nước tiểu hoặc phân do chúng ị ra làm ngứa ngáy khó chịu không?

4. Và cuối cùng là trẻ đang bị bệnh.

Khi trẻ quấy khóc, khó ở, thì phụ huynh nên kiểm tra xem 3 vấn đề đầu xem có không? Nếu 3 vấn đề đầu không có, tức là trẻ đang bị bệnh, cần đưa trẻ đi khám bác sĩ.

Trẻ như cái máy mới, trọng lượng nhỏ, nước chiếm 80% trọng lượng cơ thể trẻ. Khi trẻ bệnh chỉ chậm một chút, việc sốt, tiêu chảy cũng đủ làm trẻ mất nước và suy kiệt nhanh chóng. Nhưng vì là cái máy mới đang chạy roda nên trẻ cũng rất dễ phục hồi, vì sức sống còn mãnh liệt, chứ không như cơ thể người già. Nên chẩn đoán đúng bệnh sớm, điều trị sớm thì trẻ sẽ phục hồi rất nhanh, và ngược lại.

Rất đơn giản, khóc là biểu hiện của trẻ nhũ nhi, vì chúng chưa biết nói để mô tả, than phiền với người lớn. Nên trẻ khóc thì cha mẹ phải tìm ra nguyên nhân của trẻ khóc mà giải quyết. Bốn nguyên nhân làm trẻ khóc giờ đã được lưu ý. Hy vọng thông tin ngắn này sẽ giúp các bậc cha mẹ không còn chậm trễ, và giải quyết vấn đề khi trẻ khóc.

Tóm lại, khi trẻ khóc mà chúng ta loại trừ 3 nguyên nhân trên, thì phải đưa trẻ đi khám bệnh, mà không nên tự làm bác sĩ. Vì bác sĩ học trần thân, nhưng không phải bác sĩ nào cũng có đủ năng lực thực sự của một bác sĩ thực sự, nên mình không học thì mình đừng tự làm bác sĩ, chỉ có hại mà thôi.

Asia Clinic, 17h56' ngày thứ Hai, 03/11/2014

Wednesday, October 29, 2014

"HẬU QUẢ TAI HẠI CỦA HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ"


Dương Danh Dy
Nhà nghiên cứu Trung Quốc

Các ông Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười

...Hơn 20 năm sau Hội nghị Thành Đô, nay có dịp nhìn lại vấn đề, người ta sẽ thấy “ngộ” ra được một số điều mà ngay từ khi được phổ biến kết quả của Hội nghị, những người quan tâm đến tình hình đất nước lúc đó đã ít nhiều biểu thị sự không đồng tình.

Bước đầu, xin mạnh dạn công khai một số yếu kém của phía chúng ta, cũng như xin thẳng thắn đề cập tới một vài tác hại của những “quyết đoán” sai lầm khi đó đối với đất nước.

Nêu ra một số việc, không phải là muốn truy cứu trách nhiệm chính trị, hoặc nhằm bôi xấu, hạ thấp uy tín của một ai mà chỉ nhằm một mục đích: nếu không thấy hết những dại khờ, non yếu của chúng ta, không vạch trần những mưu ma chước quỷ của kẻ mà cho đến tận giờ phút này trong chúng ta vẫn còn có không ít ngưòi lầm tưởng họ là những đồng chí cộng sản, những người đang cùng chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội thì sẽ là một nguy hại to lớn, lâu dài, tiềm ẩn đối với dân tộc.

Ngoài những nhân nhượng vô nguyên tắc về Campuchia như đã trình bày ở bài trước, phía Việt Nam đã không hề (hay không dám) đề cập tới nguyên nhân tạo ra bất đồng trong quan hệ Việt Trung trong hơn 10 năm qua nhất là cuộc Chiến tranh Biên giới tháng 2 năm 1979 do Ban lãnh đạo Bắc Kinh cố tình, chủ động gây ra.

Phía Việt Nam đã hoàn toàn cho qua vấn đề sau khi nghe Giang Trạch Dân nói trong diễn văn: quan hệ hai nước từ nay “hãy gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”.

Đó là những điều ngưòi viết bài này thu nhận được sau khi đã hỏi kỹ đồng chí phiên dịch và nói chuyện nghiêm túc nhiều lần với đồng chí Hồng Hà khi đồng chí còn sống tại một số cuộc họp và tại phòng làm việc của đồng chí tại số 2 Nguyễn Cảnh Trân và tại nhà riêng của tôi do đồng chí chủ động tới gặp.

Không dám hé một lời

Chúng ta không đòi Trung Quốc phải bồi thường chiến tranh trong khi đã nêu vấn đế Mỹ bồi thường chiến tranh là điều kiện tiên quyết để bình thường hoá quan hệ hai nước nhưng tại sao trong đàm phán bí mật lại không dám nói dù chỉ là một lời với Trung Quốc về cuộc chiến tranh tàn ác đó và buộc họ chí ít phải nói ra câu 'lấy làm tiếc' về hành động phi nghĩa của mình?

Nhượng bộ vô nguyên tắc này của Việt Nam đã làm cho Trung Quốc dường như giành được 'vị thế chính nghĩa' trước dư luận quốc tế và nhất là trong đông đảo nhân dân Trung Quốc dù họ mang hơn 60 vạn quân chính quy xâm lược, giết hại nhiều đồng bào ta, tàn phá nhiều cơ sở vật chất của ta tại vùng sáu tỉnh biên giới Việt Nam.

Làm cho một bộ phận người trên thế giới cho rằng những vu cáo bịa đặt của Trung Quốc: 'Việt Nam xua đuổi người Hoa', 'Việt Nam xâm lược Campuchia'… là đúng, việc thế giới 'lên án, bao vây cấm vận Việt Nam' là cần thiết, việc Trung Quốc 'cho Việt Nam một bài học' là phải đạo…trong khi chính chúng ta mới là ngườì có công lớn trong việc đánh tan bọn Khơme Đỏ, cứu nhân dân Campuchia khỏi nạn diệt chủng. Tóm lại là đã làm cho khá nhiều người trong thời gian khá dài hiểu lầm, ác cảm với Việt Nam.

Cho tới khi đặt bút viết những dòng này mặc dù đã mất nhiều công sức tìm hiểu, người viết vẫn chưa biết ai là người đề xuất chủ trương cấm không được nói lại chuyện cũ với Trung Quốc, khiến cho trong hơn 20 năm qua, trên các phương tiện truyền thông của Việt Nam không hề có một tin tức nào động chạm tới Trung Quốc. Ngay cả tên tuổi, nghĩa trang của các liệt sĩ hy sinh trong cuộc đấu tranh yêu nước thần thánh trên cũng bị cố tình lảng tránh không dám công khai nói tới, thậm chí bị lãng quên.

Cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 bị quên đi

Cần phải nói ra đây một sự thực là trong khi đó, báo, mạng chính thống của Trung Quốc vẫn ra sức tung hoành, không hề bị một sự cấm đoán, hạn chế nào, ngày ngày tìm hết cách để bôi xấu, xuyên tạc Việt Nam về mọi mặt, đến nỗi phần lớn người dân Trung Quốc bình thường khi được hỏi về Việt nam cũng thốt lên, Việt Nam là 'vô ơn bội nghĩa, là kẻ ăn cháo đá bát'...

Theo tài liệu chính thức của Trung Quốc trong một cuộc điều tra công khai, đã có tới “80% dân mạng Trung Quốc - tức khoảng 300 triệu ngưòi-chủ yếu là thanh niên và người có học - tán thành dùng biện pháp vũ lực với Việt Nam tại Biển Đông.

Cảm tình, ấn tượng tốt đẹp của đa số nhân dân Trung Quốc về một nước Việt Nam anh dũng trong chiến đấu, cần cù trong lao động, hữu nghị với Trung Quốc trước đây dường như không còn nữa. Hậu quả tai hại này chưa biết bao giờ mới xoá bỏ được.

Chấp nhận yêu sách trắng trợn của phía Trung Quốc gạt bỏ mọi chức vụ trong và ngoài đảng đồng chí Nguyễn Cơ Thạch, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam, rồi lợi dụng mọi cơ hội đế đến Đại hội 8 Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức làm được việc đó khi đồng chí là một trong số rất ít người lãnh đạo có tư duy sáng tạo, am hiểu tình hình quốc tế, có sức khoẻ dồi dào, có uy tín quốc tế, nhất là đối với các nước Phương Tây là một việc làm thể hiện sự yếu kém về bản lĩnh và sự tha hoá về tình nghĩa cộng sản, là một việc làm dại dột “vác đá tự ghè chân mình”...

Có thể nói mà không sợ quá mức rằng, nếu Nguyễn Cơ Thạch còn trong ban lãnh đạo cấp cao Đảng ta một nhiệm kỳ nữa thì việc bình thường hoá quan hệ Việt Mỹ và việc Việt Nam gia nhập Asean chắc chắn không phải mãi đến năm 1995 mới thực hiện, chậm hơn việc bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc tới gần 5 năm.

Ban lãnh đạo Bắc Kinh các thế hệ, lo sợ ảnh hưởng của Nguyễn Cơ Thạch tới mức, mặc dù ông buộc phải nghỉ hưu và mất đã khá lâu mà hơn hai mươi năm sau ngày bình thưòng hoá quan hệ Việt Trung, tại Đại hội lần thứ XI ĐCSVN tháng 1 năm 2011 họ còn không muốn để con trai ông làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam (lời nguời lãnh đạo đảng ta lúc đó nói, tôi được nguyên đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Trọng Vĩnh trực tiếp cho biết)

Cần nói thêm, việc ngoan ngoãn chấp hành yêu sách gạt bỏ đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đã tạo điều kiện để từ sau đó, Bắc Kinh can thiệp ngày càng sâu hơn vào công tác cán bộ, nhân sự chủ chốt của đảng và nhà nước ta qua mấy kỳ đại hội Đảng (IX, X, và XI) nhằm có người thân Trung Quốc trong cơ cấu lãnh đạo cấp cao.

Việc tỏ ý không muốn thấy con trai đồng chí Nguyễn Cơ Thạch nêu trên chỉ là một ví dụ gần đây nhất.
Quan hệ Việt Trung trải qua nhiều bước thăng trầm

Đây là việc chưa từng có trong Đảng ta. Chúng ta đều biết thời Bác Hồ, trong Đảng ta tuy có người này kẻ kia thân Liên Xô, thân Trung Quốc nhưng ngưòi nào cũng phải nghiêm chỉnh chấp hành đường lối của Đảng, thời đồng chí Lê Duấn là người lãnh đạo chủ yếu đã không duy trì được nếp chung sống đó, nhưng bất kể là ai hễ thân Liên Xô, thân Trung Quốc trong đảng đều bị loại trừ.

Có thể nhận định thế này thế nọ về hiện tượng trên nhưng có một điều có thể khẳng định, thời đó nước ngoài và nhất là Trung Quốc, không thể trực tiếp thò tay can thiệp vào nội bộ Đảng ta nhất là vê công tác nhân sự tổ chức.

Nhưng từ năm 1991 đến nay, việc Trung Quốc can thiệp vào nội bộ ta đã hầu như đã diễn ra thường xuyên và chưa hề bị lên án. Phải chăng đã xuất hiện 'Nhóm lợi ích thân Trung Quốc' trong Đảng ta? Không giải quyết được tình trạng này thì hậu hoạn khôn lường.

Bài học bị dắt mũi nhớ đời

Không thể dùng các từ ngữ thông thưòng để đánh giá các hậu quả trên mà phải dùng từ “cái giá phải trả bằng xương máu” mới phản ánh đúng bản chất của vấn đề.
Hội nghị Thành Đô đã, đang và sẽ còn mang lại cho đất nước chúng những hậu quả to lớn, cay đắng, nhục nhã...

Vì vậy một vấn đề cũng quan trọng không kém mà người viết xin mạnh dạn khởi đầu trước: từ những cái giá phải trả đó chúng ta cần rút ra những bài học gì? Cần ghi nhớ những bài học nào?

1. Những ngưòi lãnh đạo chủ chốt của Đảng ta lúc đó hầu như không nắm được những thay đổi, những diễn biến lớn trên trường quốc tế, nhất là về các nước XHCN Đông Âu, tình hình Liên Xô, tình hình Mỹ cũng như tình hình đối thủ trực tiếp của mình lúc đó là Trung Quốc. Từ đó đã có những nhận định rất sai lầm để rồi đưa ra những quyết định rất sai lầm.

Lãnh đạo Việt Nam đã nhận định sai về vị thế quan hệ Trung - Xô

Thắng lợi của Công đoàn Đoàn kết tại Ba Lan, sự kiện Bức tường Berlin bị nhân dân Đức xoá bỏ, việc Yeltsin giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tại Liên bang Nga, Gorbachev từ bỏ chủ nghĩa xã hội và đảng cộng sản… đã không làm cho một số ngưòi trong ban lãnh đạo chúng ta thấy rằng chủ nghĩa xã hội đã không còn được nhân dân ở chính ngay những nước đó ưa thích, theo đuổi, sự sụp đổ của họ là lẽ tất nhiên.

Trong tình hình như thế mà lại chủ trương 'bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội, chống đế quốc', 'Mỹ và Phương Tây muốn cơ hội này để xoá cộng sản'.

"Nó đang xoá ở Đông Âu. Nó tuyên bố là xoá cộng sản trên toàn thế giới. Rõ ràng là nó là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm. Ta phải tìm đồng minh. Đồng minh này là Trung Quốc.” (trích Hồi ký Trần Quang Cơ)

Cần thấy rằng, trước đó Liên Xô là chỗ dựa về nhiều mặt của Việt Nam, tuy vậy phải nói thẳng ra rằng, so với Cuba thì Việt Nam tương đối ít lệ thuộc hơn. Thế nhưng trong khi Cuba phụ thuộc nặng nề vào Liên Xô, lại ở ngay sát nách Mỹ đã không tỏ ra hoảng hốt khi Liên Xô tan rã, và các bạn ấy vẫn hiên ngang đứng vững từ đó đến nay, Mỹ không dám can thiệp… thì Việt Nam đã phải vội vã quay sang tìm đồng minh ngay với kẻ đang là đối thủ nguy hiểm trực tiếp của mình chỉ vì cái đại cục chung chung, chỉ vì sợ mất chỗ dựa, sợ có thể mất chủ nghĩa xã hội, mất Đảng.

Không thấy hết những khó khăn trong ngoài nước của Trung Quốc lúc đó. Trong nước họ vừa xảy ra sự kiện Thiên An Môn, Triệu Tử Dương bị cách chức Tổng Bí thư, nội bộ lãnh đạo cấp cao bất đồng sâu sắc, một bộ phận nhân dân bất mãn với Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Do đàn áp đẫm máu học sinh sinh viên, Trung Quốc bị các nước Phương Tây chủ yếu cấm vận về chính trị, kinh tế, quân sự, có hạng mục như xuất khẩu kỹ thuật cao trong quân sự đến nay vẫn chưa huỷ bỏ.

Họ ở vào thế không có lợi nhiều mặt khi bình thường hoá quan hệ với ta, nhưng do mấy nhà lãnh đạo chúng ta lúc đó đánh giá không đúng tình hình nên không những không sử dụng được lợi thế của mình, mà còn bị Trung Quốc 'dắt mũi' kéo theo, thiệt đơn thiệt kép trong xử lý quan hệ cũ và trong giai đoạn bình thường quan hệ mới, cho tới tận bây giờ và cả trong tương lai nữa.

Lãnh đạo Việt Nam năm 1990 đã đánh mất bản lĩnh và trở nên sợ địch

Không thể không đề cập tới một vấn đề nữa là trong hơn 10 năm đối kháng, nhà nước Xã hội chủ nghĩa Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã không từ thủ đoạn nào trong đối xử với nước ta, không những thế thái độ của họ trong đối xử với Liên Xô, trong đối xử với nước Ấn Độ láng giềng đồng tác giả với họ trong đề xướng 5 nguyên tăc chung sống hoà bình những năm trước đó.

Chẳng lẽ Ban lãnh đạo Việt Nam lúc đó lại không thấy chút nào?

2. Bằng những thoả thuận tại Hội nghị Thành Đô, mấy nhà lãnh đạo chủ yếu của Đảng ta lúc đó đã tự đánh mất bản lĩnh kiên cường, bất khuất, không sợ địch mà nhiều thế hệ lãnh đạo đã nêu cao, để sẵn sàng nhận sai về phần mình trước kẻ thù, tuỳ tiện đổ lỗi cho người tiền nhiệm.

Người viết bài này không hiểu vì sao, người đại diện cho Đảng ta, một nhân vật có tinh thần sáng tạo lớn với ý chí kiên cường đã tích cực phát triển đường lối cải cách và Đổi mới và chỉ đạo toàn Đảng toàn dân thu được những thành tích to lớn rất quan trọng bước đầu, thế nhưng trước đối thủ Trung Quốc hình như chỉ còn là chiếc bóng, mất hết cảnh giác cách mạng gật đầu tin tưởng và làm theo mọi đề xuất mang đầy chất lừa bịp 'vì chủ nghĩa xã hội', 'vì đại cục' của Trung Quốc, thậm chí chấp nhận để họ can thiệp vào công việc nhân sự cấp cao của đảng ta.

Bài học này, cần được phân tích sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân, một mặt để thấy rõ sai lầm quá khứ, một mặt để ngăn chặn, phá tan những âm mưu, mánh khoé mới của ngưòi 'láng giềng bốn tốt', của 'những đồng chí' luôn rêu rao '16 chữ vàng' đang không ngừng vận dụng những thành quả cũ vào trong quan hệ với Việt Nam chúng ta hiện nay và trong tương lai.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của nhà ngoại giao kỳ cựu Dương Danh Dy, hiện sống tại Hà Nội. Mời quý vị đọc bài trước 'Họp Thành Đô 'nguyên nhân và diễn biến'

Asia Clinic, 12h35' ngày thứ Ba, 29/10/2014

Monday, October 20, 2014

TRẢ LỜI VỚI BẠN TRẺ

Có bạn trẻ hỏi 4 câu hỏi sau: 

"Chào bác Hồ Hải,

Theo dõi nhiều bài của bác viết về kinh tế, chính trị,... Cháu muốn hỏi bác một vài vấn đề, bác Gia Cát Dự xem sao nhé:
1. Bao lâu nữa Việt Nam thay đổi thể chế chính tri?

2. Lực lượng nào có thể làm thay đổi (từ sự tan rã của Trung cộng? Từ thượng tầng? Từ các lực lượng dân chủ trong nước, ngoài nước? Từ phương Tây? Vv và vv?

3. Sau thay đổi thì nước Việt sẽ như thế nào? Phát triển mạnh mẽ? Hay rơi vào nội chiến? Hay xuất hiện một thể chế độc tài hơn? Cháu nghi nội chiến lắm vì nước Việt ta từ xưa tới nay không có giặc ngoại xâm thì kiểu gì cũng nội chiến! 

4. Câu cuối: Nếu có thay đổi thì bác sẽ làm gì?"

Không trả lời thì bảo là khó khăn quá, khinh người, nên tôi xin trả lời ngắn như sau:

1. Khi nào Trung Hoa thay đổi thì Việt Nam mớai thy đổi theo. Điều này đã được khẳng định tại Hội Nghị Thành Đô 1990. Và vì lịch sử nhân loại đã chứng mình rằng, giai cấp cầm quyền chưa, và không bao giờ chịu từ bỏ sự thống trị của nó. Nếu nước Việt có được 1 tầng lớp nhà cầm quyền có học thức, thì có thể sẽ đi theo con đường của Miến Điện đã và đang đi. Lúc ấy Việt Nam sẽ cất cánh. Tôi cho rằng phải 30 năm nữa là ít nhất! Lúc ấy chắc tôi đã phủi chân lên bàn thờ nhìn con gà nude. :)

2. Chỉ có tự người cộng sản - độc tài theo kiểu Lenin đã vạch ra từ 1917 - mới làm cho họ tan rã. Điều này lịch sử của các cuộc cách mạng nhung ở Liên Xô và Đông Âu đã chứng minh. Ngay cả ở Trung Cộng và Việt Cộng, họ cũng phải tự thay đổi để đáp ứng với tình hình, nhằm vẫn còn nắm quyền ăn chia. Không ai có thể lật đổ được cộng sản, ngoại trừ chính họ.

3. Điều này phụ thuộc vào 3 yếu tố:

+ Văn hóa của nước Việt: hiếu chiến và tắm máu khi cần có một cuộc cách mạng. Đó là lịch sử 2600 năm nước Việt đã minh chứng hùng hồn.

+ Chủ quan của nhà cầm quyền: quá ác độc thì sẽ có đổ máu. Điều này thì người cộng sản có thừa sự độc ác hơn cả hồi giáo cực đoan. Lịch sử đã minh chứng tất cả. Nhưng nếu Việt cộng mà sớm thức tỉnh để đi theo Miến Điện thì sẽ không có tắm máu, nhưng điều này khó xảy ra với cộng sản Á Châu mang văn hóa nông dân ở Á Châu. Nội chiến hay, chống ngoại xâm theo các nghĩa khác nhau, lịch sử Việt chỉ có chống Trung Hoa ngoại xâm, còn lại nội chiến vì Trung Hoa muốn chuyển chiến tranh ra ngoài biên giới của họ. Điểu này đã chứng minh cuộc nội chiến Nam Bắc từ 1954 đến 1975 vừa qua.

+ Sau cuộc cách mạng tắm máu ở các nước lạc hậu và không có tầng lớp trí thức như Việt Nam, thì chắc chắn Việt Nam sẽ rơi vào cảnh khốn cùng như các quốc gia như Iraq, Afghanistan, dĩ nhiên là Việt Nam hiện nay là một minh chứng hùng hồn cho điều này.

4. Một câu nói của Charles De Gaule mà tôi luôn tâm đắc: "Tất cả các chủ thuyết rồi sẽ qua đi, điều còn lại là dân tộc!". Triều đại chính trị nào rồi cũng sẽ qua đi, nhưng tổ quốc và dân tộc luôn trường tồn. Nên tôi luôn làm những gì tôi đã và đang làm, một trí thức cô độc cố gắng dựng xây tổ quốc và dân tộc Việt trong sáng hơn và hùng cường hơn. Quỹ Tây Du có lẽ là việc tôi phải làm cho tròn trách nhiệm một công dân với tổ quốc và dân tộc ở kiếp này. Làm khoa học và làm giáo dục là việc mà tôi làm đúng sở trường của mình nhất. Mọi sở đoản sẽ không đưa ta đến đích của chân, thiện, mỹ. Tôi không bao giờ tham gia chính trị như bài Kiếp Tằm mà tôi đã viết 5 năm về nước.

Xin cảm ơn những câu hỏi hay. Chúc các bạn trẻ hãy sáng suốt chọn cho mình con đường vinh quang nhất cho dân tộc, đừng bị chính khách làm mê muội, và trở thành con rối, như Chế Lan Viên đã từng viết về cụ Hồ trong bài thơ: "Người đi tìm hình của Nước":
"...Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp 
Giấc mơ con đè nát cuộc đời con 
Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp 
Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn 

Trăm cơn mơ không chống nổi một đêm dày 
Ta lại mặc cho mưa tuôn và gió thổi 
Lòng ta thành con rối 
                         Cho cuộc đời giật dây..."

Asia Clinic, 18h06' ngày thứ Hai, 20/10/2014

Friday, October 17, 2014

HỐ ĐEN TO LỚN CỦA TRUNG HOA

Bài viết của The Economist: The Great Hole of China

Nợ của Trung Hoa sẽ không kéo nền kinh tế thế giới đi xuống, nhưng nó có nguy cơ biến hệ thống tài chính của đất nước này trở thành một thây ma di động.

Có nhiều điều mà các nhà đầu tư đang lo lắng trên toàn thế giới là, giá dầu giảm mạnh, bóng ma suy thoái và giảm phát ở châu Âu, trong đó một trong những quan trọng nhất, và người ta hiểu rõ nhất, là nợ của Trung Hoa. Trong vài năm qua, Trung Hoa đã ghi dấu ân thế giới về nợ công. Tổng số nợ của các khoản tiền của chính phủ, doanh nghiệp và hộ gia đình vay đã tăng vọt 100% GDP từ năm 2008, và bây giờ là 250% GDP; chỉ ít hơn một chút so với các quốc gia giàu có, nhưng cao hơn so với bất kỳ thị trường mới nổi khác (xem bài viết). 

Nguyên do của khủng hoảng tài chính trước đó là bởi sự gia tăng điên cuồng trong việc vay mượn - theo tư duy của Nhật Bản vào đầu những năm 1990, Hàn Quốc và các nền kinh tế mới nổi khác vào cuối năm 1990, và Mỹ và Anh trong năm 2008, nó có vẻ như hợp lý để lo ngại rằng Trung Hoa có thể đang đi vào một cuộc sụp đổ kinh tế. Còn hơn thế nữa, vì tốc độ tăng trưởng danh nghĩa(nominal growth), tổng sản lượng thực tế và lạm phát đã giảm mạnh, từ mức trung bình 15% một năm trong những năm 2000 xuống còn 8,5% hiện nay, và có vẻ có khả năng tiếp tục giảm khi lạm phát đạt mức thấp nhất trong 5 năm chỉ 1,6% trong tháng Chín 2014. Tăng trưởng danh nghĩa chậm làm hạn chế khả năng của con nợ trả các hóa đơn của họ, nó là niềm năng làm ra một cuộc khủng hoảng nợ. 

Hợp lý, nhưng sai. Trung Hoa có một vấn đề lớn về nợ. Nhưng nó không có khả năng gây ra một cuộc khủng hoảng đột ngột hoặc thổi cuộc khủng hoảng của nó vào nền kinh tế thế giới. Đó là bởi vì Trung Hoa, không giống như hầu hết các nước khác về 2 việc quan trọng là, kiểm soát các ngân hàng của mình và có các phương tiện để giải cứu chúng. Thay vào đó, rủi ro lớn nhất là sự tự mãn: các quan chức của Trung Hoa đã không nổ lực để làm sạch hệ thống tài chính, trong khi đó áp lực đè nặng nền kinh tế rơi tự do trong nhiều năm qua là từ các công ty ma và nợ mất khả năng chi trả. 

Một nửa số nợ của Trung Hoa đang nợ của các công ty, và hầu hết trong đó, là nợ của doanh nghiệp nhà nước và các nhà phát triển bất động sản. Khi nền kinh tế chậm lại và giá nhà đất giảm, nhiều khoản vay này mất khả năng chi trả. Các ngân hàng báo cáo rằng các khoản nợ xấu chỉ là 1% tài sản của họ, và kiểm toán viên của họ nhấn mạnh rằng các ngân hàng không được nói dối, nhưng các nhà đầu tư giá cổ phiếu ngân hàng hiểu rằng con số nợ xấu thực sự là gần 10%. 

Ngay cả khi một khu vực rộng lớn của các khoản vay xấu đi, hậu quả là không phải là một sự sụp đổ tài chính kiểu như Lehman. Điều này chúng ta phải cảm ơn chính quyền Trung Quốc về hệ thống tài chính của họ đã không làm ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu. Hầu hết các khoản cho vay là do các ngân hàng nhà nước kiểm soát, phần lớn trong số đó cũng chính là các công ty của nhà nước. Nếu nó phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng tín dụng toàn nền kinh tế, chính phủ sẽ (vì nó đã được giải quyết trong quá khứ) chỉ đơn giản là buộc các ngân hàng phải cho vay nhiều hơn nữa. Đồng thời dự trữ ngoại hối khổng lồ của nước này, có nghĩa là Trung Hoa không cần phải lo lắng về một suy thoái đột ngột mà cần phải tăng vốn nước ngoài, đó là sự khác biệt của  nguyên nhân chính của nhiều cuộc khủng hoảng nền kinh tế mới nổi khác với Trung Hoa. 

Sự kết hợp này kiểm soát và giảm sốc cho phép Trung Hoa có thời gian và khoảng không cần thiết để giải quyết vấn đề nợ. Thật không may, là chính nó đã làm cho chính quyền Trung Hoa tự mãn. Mặc dù, các quan chức đã bắt đầu nói về việc giải quyết nợ trong năm 2010, và họ đã thực hiện một vài bước nhỏ hướng tới làm sạch mọi thứ: một đạo luật ngân sách mới, có hiệu lực vào năm tới, cung cấp cho chính quyền trung ương nhiều quyền lực hơn để giám sát các khoản vay của chính phủ địa phương. Tuy nhiên, trong thực tế, quá nhiều cán bộ đã cho qua các khoản nợ xấu; có quá nhiều quan chức thích gói cứu trợ vỡ nợ. Đầu năm nay, trong bối cảnh nhiều hỗn loạn, Công ty Chaori chuyên sản xuất về pin năng lượng mặt trời là công ty Trung Hoa đầu tiên đã vỡ nợ trên sàn chứng khoán. Trong tháng này các chủ nợ đã được giải cứu bằng tiền cung cấp của ngân hàng nhà nước tung ra. 

Đêm dài của sự sống của con nợ

Mở rộng tín dụng cho các công ty sụp đổ và không hiệu quả là, tiền trình tạo ra một cuộc khủng hoảng nợ chậm đi đến sụp đổ, nó được đánh dấu bằng sự trì độn và phân bổ sai nguồn vốn. Nhật Bản là một tấm gương cho một tiền lệ buồn trong cách giải quyết này từ thập niên 1990, cho đến nay vẫn còn dai dẳng. Nền kinh tế Nhật đã không được làm sạch sau khi bong bóng tài sản xảy ra vào đầu những năm 1990, chính quyền Nhật Bản tự an ủi mình rằng, các công ty có thể trả được nợ, và ngân hàng là dung môi làm tan những khoảng nợ xấu. Kết quả là các công ty xác chết của Nhật, các ngân hàng ma quái và nhiều năm trì trệ và giảm phát cho nền kinh tế Nhật. 

Các quan chức của Bắc Kinh thề rằng, họ sẽ không lặp lại tình trạng bất ổn của Nhật Bản. Để làm được điều đó họ phải quyết đoán và phải để cho các công ty phá sản: văn hóa phá sản nên được thay thế cho sự trì trệ an toàn bằng cách cho vay vô dụng của ngân hàng nhà nước dựa vào dự trữ ngoại tệ. Các nhà đầu tư nghĩ rằng nhà nước sẽ bù lỗ của họ, họ sẽ nghĩ ra những trò tinh ranh để moi tiền ngân sách, và các vấn đề tệ hại sẽ phát triển. Không chỉ có vậy mà còn là một sự lãng phí rất lớn của tiền; thậm chí sự hùng mạnh Trung Hoa không thể cứ được bù lỗ mãi mãi.

Asia Clinic, 15h 27' ngày thứ Sáu, 17/10/2014

Friday, October 10, 2014

TƯ TƯỞNG NÔ DỊCH ẮT PHẢI HÀNH ĐỘNG VONG NÔ

Ba năm nay, tôi không viết về việc điểm tin vặt nữa, mà chuyển sang viết về những ý tưởng cho cộng đồng. Nhưng hôm 09/10/2014, trong cuộc họp quốc hội, ông Bộ trưởng tài chính đưa ra thông tin: Năm 2015 không có đủ tiền để tăng lương viên chức. Trong một rừng tin tức Việt Nam, tôi cho rằng đây là tin đáng sợ nhất. Dự tính năm 2015 nợ công của chính phủ lên đến 64% GDP. Trong đó, nợ công của Việt Nam cơ cấu chủ yếu là nợ nước ngoài. Một con số nói lên tình hình nền kinh tế sẽ vỡ nợ.

Cái đáng sợ thứ nhất là, nếu không tăng lương như đã định, mà lạm phát cứ tăng, đời sống vật giá cứ phi mã, thì lấy gì công chức nhà nước sống, nếu không tha hóa và tham nhũng? Trong khi đó, đồng lương công chức Việt Nam đã không thể đủ sống đàng hoàng, nên mới có chuyện tham nhũng không thể giải quyết được. Khi con người đã tha hóa thì, còn gì đáng sợ hơn trong tất cả các loại đáng sợ ở trên đời?

Cái đáng sợ thứ hai là, nếu phải tăng lương công chức thì phải khoan sức dân bằng thuế phí trong hoàn cảnh kinh tế đang ngày càng tồi tệ như hiện nay? Vì ngay cả nước cung cấp cho nông dân tươi tiêu ruộng đồng, mà quốc hội cũng nghĩ ra để đánh thuế, trong khi đó, quá nhiều thuế phí, và tình cảnh bị gian thương ép giá, đã làm cho nông dân bỏ ruộng cày, đi lên thành phố kiếm sống bằng lao động giản đơn. Sức dân có hạng, nên khi sức dân đến cùng cực thì điều gì sẽ xảy ra? Đầu tiên là trộm cướp, lừa đảo lưu manh, thứ đến là giết người cướp của, và cuối cùng là... tức nước vỡ bờ.

Cái đáng sợ thứ ba không nói ra thì ai cũng biết. Nó báo cho người dân biết rằng, tình hình kinh tế nước nhà đã và đang đi đến đáy chưa thấy, nên hàng loạt doanh nghiệp sụp đổ, dẫn đến thu ngân sách không đủ để chi lương công chức. Nó là cái nguy, nhưng cũng là cái cơ hội để cho chính quyền nhìn lại xem chế độ chính trị đã đúng hay sai? Cần thay đổi như thế nào, không thể cứ ôm cái mới luẩn quẩn chủ nghĩa Marx Lenin, với nền kinh tế đặc thù Trung Cộng biến tướng thành cái chữ mỹ miều: "kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa", theo kiểu chơi chữ để mỵ dân hơn là thực sự cầu thị phải làm gì cho đất nước hùng cường.

Cái sợ thứ nhất là sợ con người Việt đã ngày càng trở nên súc vật trong cuộc sống. Con người mà đã hư đốn thì xã hội ắt sẽ loạn. Vì chữ Nhân trong Thiên - Địa - Nhân là chữ quan trọng nhất để làm nên một quốc gia hùng cường.

Cái sợ thứ hai là sợ rằng nền kinh tế Việt Nam đang trên đà đổ dốc mà chưa thấy đáy, và lòng dân không còn tin tưởng vào chế độ. Kinh tế quyết định chính trị, kinh tế mà sụp mãi thì chính trị ắt sẽ đổ theo. Lòng dân đã mất ắt chế độ sẽ mất theo. Đó là 2 quy luật tất yếu.

Cái đáng sợ thứ ba là hệ quả của một nền kinh tế chính trị không đúng. Nó là nguyên nhân chính dẫn đến 2 cái trên. Nhưng chính trị là một nghệ thuật của sự có thể. Cho nên, có thể thay đổi được để cứu tất cả. Vì thế, nguy cơ sụp đổ chính trị và kinh tế Việt Nam là có thật, nó như một bóng ma đang lù lù xuất hiện lớn dần, rất nhẹ nhàng và yên ắng, nhưng không ai đoán được nó sụp khi nào.

 Trong nguy lại có cơ hội, nếu đảng cầm quyền biết cầu thị. Nó cũng là dịp để từ bỏ Trung Cộng, từ bỏ tư tưởng vay mượn của người khác. Xưa thì vay mượn Khổng Khâu để làm nên 1000 năm Bắc thuộc phong kiến. Nay vay mượn Marx Lenin và Mao để làm nên một thời đại Bắc thuộc mới. 

Đã đến lúc phải tư duy độc lập, làm nên tư tưởng của mình để xây dựng đất nước Việt hùng cường. Tư tưởng mà vay mượn thì hành động cũng chỉ là kẻ nô vong.

Asia Clinic, 16h46' ngày thứ Sáu, 11/9/2014